LÀNG XỨ THANH
Ngày đăng: 17-05-2026
98 lượt xem
(Truyện ngắn - Hoàng Thanh)
LÀNG XỨ THANH
Bây giờ, mỗi lần đi qua những cánh đồng quê xứ Thanh xanh rờn máy gặt, nhìn những con đường bê tông chạy dài qua bãi sông Mã, nhiều người trẻ khó hình dung được rằng nơi đây từng có một thời nghèo đến quặn lòng. Một thời mà cả làng sống trong bóng tối leo lét của đèn dầu. Một thời mà cái đói không chỉ nằm trong bụng người, mà còn nằm trong ánh mắt, trong giọng nói, trong cả những giấc mơ còm cõi của một thế hệ.
Ấy là đầu những năm tám mươi của thế kỹ trước. Những năm tháng hợp tác xã còn siết chặt đời sống người dân quê bằng cơ chế tem phiếu, công điểm và đủ thứ ràng buộc kéo dài như một màn sương xám phủ lên làng mạc ven sông Chu, sông Mã. Ngày ấy, cả làng gần như sống theo tiếng kẻng hợp tác. Sáng tinh mơ, khi gà còn chưa gáy canh cuối, tiếng kẻng đã leng keng vang lên từ đầu xóm. Tiếng kẻng khô và lạnh, vang trong màn sương mùa đông nghe như tiếng kim loại gõ vào lòng người. Đàn bà quấn khăn nâu, khoác áo bông vá vai, gánh phân ra đồng. Đàn ông vác cuốc, vác mai đi đào mương, be bờ, cấy lúa. Lũ trẻ con ngủ dở giấc đã bị gọi dậy chăn trâu hoặc đi mót khoai ngoài bãi. Người dân quê thời ấy gần như không có khái niệm làm cho riêng mình.
Ruộng là của tập thể.
Trâu bò là của tập thể.
Máy bơm nước là của tập thể.
Lúa thu hoạch cũng phải nhập kho hợp tác trước rồi cuối vụ mới chia lại theo công điểm. Một người làm cả ngày quần quật ngoài đồng có khi chỉ được mười công. Cuối năm tính ra vài lạng thóc một công. Có những gia đình sáu bảy miệng ăn mà số thóc chia về chỉ đủ vài tháng. Những tháng còn lại phải sống bằng khoai, bằng sắn, bằng bo bo cứu đói. Cái đói thời ấy dai dẳng như mưa phùn tháng chạp. Nó không đến ào ạt như bão tố. Nó âm thầm gặm nhấm con người từng ngày. Trẻ con xứ Thanh khi ấy nhiều đứa bụng ỏng, tóc hoe vàng vì thiếu ăn. Đôi chân nứt nẻ quanh năm vì rét và vì không có dép. Có những đêm mùa đông, cả nhà quây quanh nồi cháo loãng mà trong nồi nước nhiều hơn gạo.
Người mẹ thường lặng lẽ vớt phần đặc cho con nhỏ.
Người cha cầm bát cháo toàn nước vẫn cười gượng cha ăn quen rồi. Cái nghèo nhiều khi làm con người ta không còn biết xấu hổ nữa.
Người dân quê thời ấy quý gạo như quý máu.
Mỗi gia đình cán bộ công chức đều có một cuốn sổ lương thực. Cuốn sổ nhỏ, giấy vàng úa, mép mềm đi vì mồ hôi tay và những lần mở ra đóng vào quá nhiều. Trong ấy ghi tiêu chuẩn gạo từng người. Muốn mua gạo phải mang sổ ra cửa hàng mậu dịch. Không có sổ thì có tiền cũng không mua được. Có những buổi sáng rét cắt da, người ta đã đội mưa đứng xếp hàng từ lúc trời còn tối om. Ai cũng ôm chặt cuốn sổ gạo trong ngực áo như ôm sinh mạng cả gia đình. Đến trưa mới tới lượt thì cửa hàng báo hết gạo chỉ còn bo bo.
Hoặc ít bột mì mốc vàng.
Người đàn bà quê đứng lặng hồi lâu rồi lặng lẽ quay về, chiếc làn cói va vào đầu gối theo từng bước chân mệt mỏi. Có người đánh rơi sổ gạo giữa đường. Về đến nhà mới phát hiện, người mẹ cuống cuồng chạy ngược chạy xuôi tìm trong tuyệt vọng.
Mưa phùn quất trắng mặt.
Con đường làng lầy nhão bùn đất.
Đến tối vẫn không thấy.
Đêm ấy cả nhà không ai ngủ được.
Người mẹ ngồi dưới ánh đèn dầu mà khóc tức tưởi như vừa làm mất thứ quý giá nhất đời mình. Bởi mất sổ gạo đồng nghĩa với việc cả nhà có thể thiếu ăn hàng tháng trời. Muốn cấp lại phải lên xã xác nhận, chờ xét duyệt rất lâu. Trong thời gian ấy chỉ biết đi vay gạo hàng xóm cầm hơi. Nhưng hàng xóm cũng nghèo. Có khi cho nhau vay chỉ một lon gạo nhỏ mà nghĩa tình nặng như núi.
Thời ấy còn có chuyện “ngăn sông cấm chợ”.
Người dân không được tự do mua bán. Mang vài chục cân gạo sang huyện khác cũng có thể bị giữ lại kiểm tra. Những chuyến tàu đêm từ Thanh Hóa vào Nam thường chở theo những người đàn bà gầy guộc, áo bông bạc màu, lặng lẽ ôm túi gạo giấu dưới đáy thúng. Họ đi như những kẻ chạy trốn. Qua mỗi trạm kiểm soát là một lần tim đập thình thịch. Có người bị tịch thu sạch hàng hóa giữa ga tàu mà ngồi ôm mặt khóc lặng.
Khóc không chỉ vì mất gạo.
Mà vì mất luôn hy vọng nuôi đàn con đang đói ở nhà.
Ở quê, muốn mổ một con lợn cũng không đơn giản. Con lợn thời ấy là cả gia sản. Người dân nuôi bằng bèo, bằng cám, bằng thân chuối thái nhỏ. Nuôi suốt cả năm chỉ mong Tết có chút thịt cho con. Nhưng muốn mổ phải xin phép HTX. Không xin mà mổ lén có thể bị kiểm điểm giữa làng. Vì thế nhiều nhà thường đợi nửa đêm mới làm thịt. Không dám bật đèn sáng. Không dám cười nói to.
Tiếng dao chạm vào máng gỗ cũng ghìm xuống thật nhẹ. Có nhà vừa cắt tiết lợn xong đã thấp thỏm nhìn ra ngõ vì sợ đội kiểm tra đi qua. Mỗi nhà được chia vài lạng thịt rồi vội vàng bọc lá chuối mang về trước lúc trời sáng. Nhưng điều ám ảnh nhất của làng quê thời ấy không chỉ là cái đói. Mà là sự bất lực. Người dân làm rất nhiều mà vẫn nghèo. Họ nhìn những thửa ruộng HTX rộng mênh mông mà lúa thưa thớt, cỏ mọc um tùm. Trong khi mảnh ruộng “năm phần trăm” nhỏ xíu của mỗi nhà lại xanh rờn. Ruộng năm phần trăm là phần đất hợp tác giao cho dân tự làm thêm để cải thiện đời sống. Chỉ vài thước đất thôi. Nhưng người dân chăm chút nó như chăm chính số phận mình. Người mẹ đi làm đồng tập thể cả ngày, tối về vẫn xách đèn dầu ra ruộng năm phần trăm bắt sâu. Người cha thức khuya tát nước giữ lúa. Đứa con nhỏ đi học về cũng tranh thủ nhổ cỏ. Và kỳ lạ thay, lúa ở đó luôn chắc hạt hơn. Một sào ruộng năm phần trăm nhiều khi cho sản lượng còn hơn mấy sào ruộng HTX cộng lại.
Dân quê ai cũng thấy điều ấy. Nhưng chỉ nói với nhau rất khẽ.
Có lão nông ngồi bên bờ ruộng, rít hơi thuốc lào rồi thở dài:
“Đất cũng như người thôi phải thật lòng với nó thì nó mới nuôi mình.”
Câu nói ấy sau này nhiều người nhớ mãi. Bởi nó không chỉ nói chuyện đồng ruộng. Mà nói cả thân phận con người trong những năm tháng ấy. Đêm làng quê xứ Thanh thời bao cấp buồn đến nao lòng. Không có ánh đèn neon. Không có quán xá ồn ào. Chỉ có tiếng chó sủa vọng qua hàng tre. Tiếng gió bấc hun hút ngoài triền sông Mã. Tiếng ho khan của người già trong đêm lạnh. Và đâu đó, dưới ánh đèn dầu leo lét, người mẹ quê vẫn ngồi vá áo cho con.
Bàn tay gầy guộc của bà run lên trong ánh sáng vàng đục.
Đứa con ngủ say trên chõng tre, bụng lép kẹp sau bữa cơm độn sắn.
Ngoài hiên, khói rạ bay là là trong gió. Mỏng manh. Hiu hắt. Như chính đời sống của người dân quê Việt Nam một thời.
Rồi Đổi mới đến.
Ruộng đất được giao về từng hộ. Người dân bắt đầu được làm chủ trên mảnh đất của mình. Những cánh đồng dần xanh hơn. Những phiên chợ quê đông hơn. Tiếng cười cũng nhiều hơn. Nhưng những đêm làng quê Thanh Hóa thời bao cấp thì mãi mãi chỉ còn trong ký ức. Một miền ký ức nghèo khó nhưng đầy tình người. Để nhiều năm sau, khi đi qua gần hết một đời người, người ta vẫn nhớ như in ánh đèn dầu leo lét, cuốn sổ gạo mềm vì mồ hôi tay mẹ, tiếng kẻng HTX trong sương sớm và những thửa ruộng năm phần trăm xanh rờn giữa cánh đồng tập thể xác xơ. Nhớ để hiểu rằng đã có một thời người dân quê Việt Nam sống cơ cực đến thế. Và cũng đã có một thời, giữa tận cùng nghèo khó, con người vẫn thương nhau bằng tất cả sự tử tế còn sót lại trong lòng mình. Sau ngày đổi mới, làng quê xứ Thanh như khoác lên mình một tấm áo mới. Những con đường đất lầy lội ngày nào dần được thay bằng đường bê tông phẳng phiu, nối liền xóm nhỏ với phố huyện, nối những ước mơ bình dị của người dân với nhịp sống hiện đại.
Trên những cánh đồng, tiếng máy cày, máy gặt vang lên thay cho tiếng trâu kéo cày nhọc nhằn. Người nông dân không chỉ biết “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” mà còn biết áp dụng khoa học kỹ thuật, chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, làm kinh tế trang trại, phát triển nghề phụ. Nhiều làng quê ven sông Mã, sông Chu đã có những mô hình sản xuất mới, mang lại thu nhập ổn định hơn cho người dân. Nhà cửa trong làng cũng đổi thay từng ngày. Những mái tranh vách đất thưa dần, thay vào đó là những ngôi nhà tầng khang trang, cổng ngõ sạch đẹp. Điện sáng về từng thôn xóm, tiếng tivi, tiếng loa truyền thanh, tiếng trẻ em học bài vang lên trong mỗi nếp nhà. Trường học, trạm y tế, nhà văn hóa được xây dựng khang trang hơn, đời sống tinh thần của người dân ngày càng phong phú.
Tuy vậy, giữa bao đổi thay, hồn quê xứ Thanh vẫn được gìn giữ. Vẫn còn đó tiếng nói mộc mạc, nghĩa tình làng xóm, những phiên chợ quê, những lễ hội truyền thống, những câu hò sông Mã ngân vang trong ký ức. Người dân xứ Thanh dù đi đâu, làm gì vẫn luôn mang trong mình sự cần cù, chịu thương chịu khó và lòng tự hào về quê hương. Làng quê xứ Thanh sau ngày đổi mới không chỉ thay đổi về diện mạo mà còn chuyển mình trong tư duy, trong khát vọng vươn lên. Từ những miền quê còn nhiều gian khó, hôm nay đã hiện lên hình ảnh một vùng đất giàu sức sống, đang từng bước hòa vào dòng chảy phát triển của đất nước nhưng vẫn giữ trọn nét chân quê đằm thắm, nghĩa tình.

Gửi bình luận của bạn