Dự án đầu tư thuê môi trường rừng làm du lịch sinh thái

Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng là một trong những loại hình du lịch được xem là bền vững và có xu hướng phát triển nhanh hơn so với các loại hình du lịch truyền thống.

Ngày đăng: 13-12-2022

327 lượt xem

Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng là một trong những loại hình du lịch được xem là bền vững và có xu hướng phát triển nhanh hơn so với các loại hình du lịch truyền thống. 

DU LỊCH SINH THÁI VÀ THUÊ MÔI TRƯỜNG RỪNG LÀM DU LỊCH SINH THÁI

1.1 Tổng quan về du lịch và du lịch sinh thái

1.1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về du lịch 

1.1.1.1 Khái quát quá trình phát triển của hoạt động du lịch

Trước thế kỷ XIX “du lịch” chỉ là hiện tượng lẻ tẻ của một số người thuộc tầng lớp có thu nhập cao trong xã hội. Cho đến đầu thế kỷ XX, khách du lịch vẫn tự lo việc đi lại và ăn ở của mình. Vì vậy, vào thời kỳ đó người ta coi du lịch như là một hiện tượng nhân văn nhằm làm phong phú thêm nhận thức của con người.

Nhiều học giả cho rằng: hoạt động du lịch chỉ có thể hình thành khi xã hội đã bước ra khỏi giai đoạn hái lượm, khả năng tích luỹ lương ăn là một trong những yếu tố rất quan trọng cho việc tạo ra nhu cầu du lịch theo nghĩa sơ đẳng nhất. Đến thời kỳ Trung đại, hoạt động du lịch có những lúc phát triển nhanh nhưng có những giai đoạn bị chững lại do ảnh hưởng của những cuộc chiến tranh liên miên. Cho đến những chuyến viễn du dài ngày đầu tiên của loài người, mà điển hình là cuộc hành trình của Marco Polo, Christopher Columbus, Vassco de Gama… đã thực sự mở ra một giai đoạn mới cho hoạt động này. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới ở thời kỳ sau đó, đặc biệt là sự ra đời những phát minh có ý nghĩa nhảy vọt về giao thông vận tải như đầu máy hơi nước do James Watt chế tạo năm 1784; loại xe chạy trên đường ray ở Đức vào thế kỷ 17; chiếc ô tô đầu tiên ra đời năm 1885; chiếc “máy bay” đầu tiên do hai anh em nhà Wright chế tạo năm 1903 v.v… đã đưa du lịch bước sang một trang mới, hứa hẹn một tương lai phát triển cho ngành du lịch (Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, 2006).

Từ năm 1950 đến nay, khi thế giới bước vào kỷ nguyên khoa học công nghệ và sau đó là nền kinh tế tri thức. Hoạt động du lịch đã phát triển cả về nội dung lẫn hình thức. Du lịch thế giới đã phát triển nhanh với tốc độ tăng trưởng bình quân về khách tăng 3,4%/năm (giai đoạn 2000 – 2010), về thu nhập tăng 11,8%/năm (từ 1950 đến 2010) và trở thành một trong những ngành kinh tế hàng đầu trong nền kinh tế thế giới.

Theo đánh giá của Hiệp hội Lữ hành và Du lịch Thế giới (WTTC), đến năm 2020 du lịch sẽ trở thành ngành kinh tế “công nghiệp” chiếm tỷ trọng lớn nhất trong những ngành xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ. Sự đóng góp của du lịch vào GDP dự kiến sẽ tăng từ 9,3% năm 2010 lên 9,7% vào năm 2020 (WTTC, 2010) .

Du lịch phát triển đem lại một lợi ích to lớn, nó tác động đến tất cả các mặt của đời sống xã hội đồng thời đẩy nhanh quá trình quốc tế hóa, tác động đến nhiều ngành kinh tế khác như: Giao thông vận tải, xây dựng, nông nghiệp, Bưu chính viễn thông v.v…Do đó ngày nay rất nhiều các quốc gia quan tâm đến sự phát triển của hoạt động du lịch. Xu hướng phát triển du lịch ngày nay là hướng về thiên nhiên và văn hóa. Trong đó, việc phát triển du lịch sinh thái (Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng) ngày càng thu hút được sự quan tâm rộng rãi của nhiều tầng lớp xã hội, đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của du khách.

1.1.1.2 Khái niệm du lịch

Vào năm 1963, với mục đích quốc tế hoá khái niệm du lịch, tại Hội nghị Liên hiệp quốc về du lịch họp ở Roma các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục địch hoà bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ” (Trương Sỹ Quý và Hà Quang Thơ, 1998).

Còn tại Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch ở Otawa, Canada tháng 6/1991: “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình) trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã đựơc các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm” (Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, 2006).

ØNhìn chung: Có nhiều khái niệm về du lịch, tuy nhiên để phản ánh mối quan hệ bản chất bên trong làm cơ sở cho việc nghiên cứu, chúng ta có thể hiểu một cách khái quát khái niệm du lịch như sau “Du lịch là tổng thể những hiện tượng, mối quan hệ phát sinh từ sự tác động qua lại lẫn nhau giữa khách du lịch, những nhà kinh doanh du lịch, chính quyền sở tại và cộng đồng cư dân địa phương trong quá trình thu hút và lưu giữ khách du lịch” (Trương Sỹ Quý và Hà Quang Thơ, 1998).

1.1.1.3 Các loại hình du lịch

Trong hoạt động du lịch, tùy theo đối tượng, mục đích chuyến đi của du khách hay dựa vào đặc điểm địa lý điểm du lịch hoặc các tiêu chí khác, người ta thường chia du lịch thành nhiều loại hình cụ thể như:

- Theo mục đích chuyến đi: Người ta thường phân chia thành: 

+ Du lịch thuần túy: du lịch tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng; Du lịch sinh thái; du lịch khám phá...

+ Du lịch kết hợp: du lịch tôn giáo; du lịch nghiên cứu học tập; du lịch hội nghị, hội thảo; du lịch chữa bệnh...

- Theo đặc điểm địa lý của điểm du lịch: du lịch biển; du lịch núi; du lịch đô thị; du lịch nông thôn…

- Theo phương tiện giao thông: du lịch tàu biển; du lịch tàu hỏa; du lịch xe đạp; du lịch ô tô…

- Theo lãnh thổ: gồm du lịch quốc tế đến – inbound tourist; du lịch quốc tế đi – outbound tourist; du lịch nội địa

Ngoài ra còn rất nhiều cách phân chia khác như: phân loại theo loại hình lưu trú; phân loại theo lứa tuổi du khách; phân loại theo độ dài chuyến đi... Tuy nhiên, một cách phân chia khá phổ biến thường hay được nhắc đến là cách phân chia dựa vào tính chất hoạt động du lịch như: Du lịch văn hóa; Du lịch sinh thái; Du lịch MICE v.v. Ngoài ra, người ta còn có thể chia nhỏ hơn các chuyên đề, loại hình du lịch trên như trong du lịch văn hóa có thể lại được chia thành: Du lịch nghiên cứu văn hóa ẩm thực, nghiên cứu văn hóa lịch sử, nghệ thuật…của một đất nước hoặc của một vùng miền…

Tóm lại: Có thể có nhiều cách phân chia loại hình du lịch dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau. Bên cạnh du lịch văn hóa, du lịch sinh thái được xem là loại hình du lịch phát triển khá nhanh và ngày cành trở nên phổ biến trên thế giới

1.1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản về du lịch sinh thái (ecotourism)

1.1.2.1 Khái niệm về du lịch sinh thái

Du lịch sinh thái (Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng - Ecotourism) là một trong những loại hình du lịch được xem là bền vững và có xu hướng phát triển nhanh hơn so với các loại hình du lịch truyền thống. Với tư cách là một loại hình/một sản phẩm du lịch cụ thể, khái niệm Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng đã xuất hiện từ khá lâu trong các nghiên cứu về du lịch và gần đây là trong các ấn phẩm quảng cáo về du lịch ở các quy mô khác nhau từ quốc gia, địa phương đến doanh nghiệp. Từ khi xuất hiện khái niệm này vào những năm 1970, Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng đã thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và các doanh nghiệp du lịch, các nhà quản lý về du lịch, khách du lịch. Tuy nhiên nhận thức về Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng còn có sự chưa thống nhất.

Định nghĩa về Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng lần đầu tiên được ra như sau: Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng là du lịch đến những khu vực tự nhiên còn ít bị thay đổi, với những mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa được khám phá”. (Hector Ceballos-Lascurain, 1987)

Theo khái niệm của Hiệp hội Du lịch Châu Á - Thái Bình Dương (PATA): Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng là hình thức du lịch dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên (các hệ sinh thái, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên...) nhằm đáp ứng nhu cầu đặc biệt của du khách (cảm giác về với thiên nhiên; nhu cầu tìm hiểu khám phá tự nhiên...).”

Các khái niệm trên phần nhiều mới chỉ nhấn mạnh đến hình thức mà chưa nhấn mạnh đến nội dung của loại hình du lịch này. Trong những năm gần đây, nguy cơ ảnh hưởng môi trường cho các khu thiên nhiên, khu bảo tồn do có quá nhiều du khách tham quan, do đó các nhà bảo tồn, các nhà kinh tế và du khách đều nhận thức được là không thể nghiên cứu thiên nhiên mà không quan tâm đến quyền lợi của cư dân địa phương và bảo vệ môi trường sinh thái.

Vì vậy, Hiệp hội Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng Thế giới đã tổng hợp lại và có một định nghĩa tương đối đầy đủ về Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng như sau:

Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên, là nơi bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương” (TIES, 2006).

Theo Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế: Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng là loại hình du lịch và tham quan có trách nhiệm với môi trường tại những vùng còn tương đối nguyên sơ để thưởng thức và hiểu biết thiên nhiên (có kèm theo các đặc trưng văn hoá - quá khứ cũng như hiện tại) có hỗ trợ đối với bảo tồn, giảm thiểu tác động từ du khách, đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của nhân dân địa phương” (IUCN, 1996).

Những khái niệm trên cho thấy Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng không chỉ đơn thuần là du lịch gắn với thiên nhiên mà Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng còn tạo cơ hội để du khách trải nghiệm, tìm hiểu về thiên nhiên, đặc biệt về các giá trị sinh thái và đa dạng sinh học và văn hóa bản địa ở những nơi du khách đến du lịch, qua đó làm tăng thêm nhận thức và trách nhiệm của du khách đối với việc bảo tồn và phát triển tự nhiên và cộng đồng địa phương.

Ở Việt Nam, Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng là một lĩnh vực mới được nghiên cứu từ giữa những năm 90 của thế kỷ XX, song đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu về du lịch và môi trường. Do trình độ nhận thức và góc độ nhìn nhận khác nhau, khái niệm về Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng cũng chưa có nhiều điểm thống nhất. Để có được sự thống nhất về khái niệm làm cơ sở cho công tác nghiên cứu và hoạt động thực tiễn của Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng, Tổng cục du lịch Việt Nam đã phối hợp với nhiều tổ chức quốc tế như Uỷ ban Kinh tế- Xã hội Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP), Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF)…có sự tham gia của các chuyên gia, các nhà khoa học quốc tế Việt Nam về Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng và các lĩnh vực liên quan, tổ chức hội thảo quốc gia về “Xây dựng khung chiến lược phát triển Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng ở Việt Nam” từ ngày 07/9 đến 09/9/1999. Một trong những kết quả quan trọng của hội thảo lần đầu tiên đã đưa ra định nghĩa về Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng ở Việt Nam, theo đó: “Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”.

Năm 2005, Luật Du lịch Việt Nam đã xác định Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững”.

Hình 1.1: Du lịch sinh thái

Tóm lại: Mặc dù có khá nhiều định nghĩa khác nhau về Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng nhưng đa số các chuyên gia và tổ chức quốc tế đều thống nhất những nội dung cơ bản sau:

- Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng là loại hình phát triển du lịch bền vững và được quản lý bền vững;

- Là loại hình chủ yếu dựa vào thiên nhiên (đặc biệt là ở những khu vực còn hoang sơ, được bảo tồn tương đối tốt);

- Có hỗ trợ bảo tồn (không làm thay đổi tính toàn vẹn của hệ sinh thái, nguồn thu được từ hoạt động Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng được đầu tư cho công tác bảo tồn, bảo vệ môi trường…);

- Có các hoạt động, hình thức giáo dục về môi trường và sinh thái;

- Có sự tham gia chia sẻ lợi ích cộng đồng (khuyến khích sự tham gia cộng đồng trong các hoạt động và dịch vụ cho Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng như hướng dẫn viên địa phương, kinh doanh lưu trú, ăn uống, tạo các sản phẩm bổ trợ khác…);

- Gắn liền với hoạt động gìn giữ văn hóa bản địa.  

Tính chất văn hóa trong Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng chủ yếu mang tính bản địa. Nó khác với du lịch văn hóa (DLVH) vì khía cạnh văn hóa trong DLVH bao trùm hơn “nhằm thỏa mãn những nhu cầu mở rộng sự hiểu biết về nghệ thuật (các công trình kiến trúc, tác phẩm điêu khắc, hội họa, nghệ thuật, sân khấu...), phong tục tập quán của người dân nơi họ đến, tình hình kinh tế xã hội của đất nước được viếng thăm...” (Trương Sỹ Quý và Hà Quang Thơ, 1998).  

1.1.2.2 Các loại hình du lịch sinh thái

Để thuận tiện cho việc nghiên cứu tổng quát cũng như thực tế tổ chức hoạt động Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng thì hình thức phân chia các loại hình du lịch theo mục đích chuyến đi được sử dụng phổ biến (Hiệp hội Du lịch Sinh thái, 1999a). Do đó, hiện nay các loại hình Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng thường được phân chia như:

- Du lịch sinh thái nghỉ núi, nghỉ biển;

- Du lịch vãn cảnh thiên nhiên;

- Du lịch sinh thái nghiên cứu, tìm hiểu (thiên nhiên, động thực vật);

- Du lịch sinh thái mạo hiểm v.v...

Ngoài ra người ta có thể cụ thể hơn các loại hình trên như: Du lịch sinh thái vãn cảnh làng quê; du lịch sinh thái nghiên cứu động thực vật biển; du lịch sinh thái nghiên cứu hệ động thực vật (của khu bảo tồn, vùng, miền...)...

Ở đây, cũng cần phân biệt sự khác nhau giữa chương trình (hay tour) du lịch và loại hình du lịch. Khi nói đến loại hình du lịch là người ta muốn đề cập đến chuyên đề, mục đích của chuyến du lịch. Còn chương trình du lịch là dựa trên các mục đích và yêu cầu của du khách để từ đó người ta xây dựng một lịch trình cụ thể nhằm giúp du khách tiếp cận và thực hiện mục đích chuyến đi của mình.

1.1.2.3 Đặc điểm của du lịch sinh thái

Mọi hoạt động phát triển du lịch nói chung và Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng nói riêng đều được thực hiện trên cơ sở khai thác giá trị của tài nguyên du lịch thiên nhiên, văn hóa kèm theo các yêu cầu về dịch vụ cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng. Kết quả của quá trình khai thác là sự hình thành các sản phẩm du lịch từ tiềm năng về tài nguyên, đem lại nhiều lợi ích cho xã hội.

Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng là một dạng của hoạt động du lịch, vì thế nó cũng bao hàm các đặc điểm của hoạt động du lịch nói chung như tính đa ngành, đa thành phần, đa mục tiêu, tính liên vùng, tính liên quốc gia, tính mùa vụ, … Bên cạnh đó, Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng còn có những đặc điểm khác biệt nhất định so với các loại hình khác. Cụ thể như:

- Tính thân thiện với môi trường: Các hình thức hoạt động Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng đều mang tính thân thiện môi trường cao. Ngay từ khâu quy hoạch xây dựng cho đến khâu tổ chức hoạt động đều tuân thủ một nguyên tắc không can thiệp thô bạo đến môi trường tự nhiên, hạn chế tối đa những tác động xấu đến môi trường. Điều này liên quan đến công nghệ và vật liệu sử dụng trong xây dựng và quản lý hoạt động của Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng.

- Tính giáo dục cao về môi trường, sinh thái, văn hóa: Các hoạt động Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng thường mang lại những kiến thức đa dạng về hệ sinh thái, về đa dạng sinh học và các giá trị văn hóa truyền thống. Qua đó, khách du lịch sinh thái có thể nâng cao nhận thức về môi trường và có trách nhiệm hơn với việc bảo vệ môi trường tự nhiên và nền văn hóa truyền thống.

- Tính chuyên nghiệp cao: Hoạt động Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng yêu cầu trình độ quản lý chuyên nghiệp bởi đội ngũ nhân viên được đào tạo kỹ càng, có kiến thức nghiệp vụ chuyên môn cao và kiến thức về sinh thái môi trường bao quát. Tính chuyên nghiệp được thể hiện trước hết ở trình độ, năng lực của nhà quản lý. Yêu cầu đối với nhà quản lý Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng không chỉ giỏi ở nghiệp vụ quản trị du lịch, năng lực quản lý tốt mà còn phải am hiểu về hệ sinh thái, về văn hóa và cả nghiệp vụ bảo tồn.

- Tính định hướng thị trường: Do đặc điểm của mình, Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng có tính định hướng thị trường rất cao. Thông thường Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng có phân khúc thị trường riêng. Đối tượng khách chủ yếu là những người ưa khám phá, tìm hiểu và có trình độ nhất định. Do vậy, để phát triển Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng, vấn đề nghiên cứu thị trường và quảng bá xúc tiến có vai trò đặc biệt quan trọng. PGS.TS. Phạm Trung Lương (Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch) đã đúc kết một số đặc điểm của khách du lịch sinh thái như sau:

+ Đó là những người trưởng thành, có thu nhập cao, có giáo dục và có sự quan tâm đến môi trường thiên nhiên;

+ Thích hoạt động ngoài thiên nhiên;

+ Thường có thời gian du lịch dài hơn và mức chi tiêu nhiều hơn so với khách du lịch ít quan tâm đến thiên nhiên;

+ Thường không đòi hỏi cao về đồ ăn/ thức uống hoặc nhà nghỉ cao cấp đầy đủ tiện nghi.

- Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng thường có quy mô nhỏ: Để đảm bảo những mục tiêu bảo tồn, giảm thiểu các tác động không mong muốn đối với hệ sinh thái, các đoàn khách du lịch sinh thái thường có quy mô không lớn, thường lập thành nhóm khoảng 15 người và tần suất hoạt động tại các điềm du lịch cũng không dày.

- Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng là loại hình du lịch có tính cộng đồng cao: Đây là một đặc điểm mà nhiều loại hình du lịch không nhất thiết phải có. Bởi vì Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng hướng đến những khu vực thiên nhiên nhạy cảm với những tác động, nhất là tác động của con người. Do vậy, yêu cầu trước tiên là phải có sự tham gia của cộng đồng. Chính những người dân ở các khu vực trên sẽ là người bảo vệ đắc lực nhất cho hệ sinh thái của mình.

Với những đặc tính trên, Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng được phát triển sẽ mang lại những lợi ích vô cùng thiết thực đối với ngành du lịch nói riêng và phát triển xã hội bền vững nói chung.

1.1.2.4 Vai trò của việc phát triển du lịch sinh thái

Theo Hiệp hội Du lịch Sinh thái Thế giới (The International Ecotourism Society) thì Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng có rất nhiều ý nghĩa trong đó có thể kể đến một số vai trò sau:

a. Vai trò về kinh tế

Thực tế đang diễn ra trên thế giới cho thấy Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng đã mang lại nguồn thu đáng kể, góp phần kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của nhiều ngành: công nghiệp, nông nghiệp, thủy sản..., thúc đẩy sự phát triển kinh tế ở nhiều địa phương và quốc gia. Mặt khác, việc phát triển Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng đã đóng góp tích cực vào sự phát triển của hoạt động du lịch, tạo nên sức thu hút, sự hấp dẫn của điểm du lịch. Theo Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới (WTTC, 2010), hiện tại Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng chiếm khoảng 20% thị trường du lịch thế giới và dự báo trong vài năm tới sẽ là phân ngành có tốc độ phát triển nhanh nhất trong hoạt động du lịch, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế của nhiều vùng, nhiều quốc gia.

b. Vai trò về xã hội

- Nâng cao thu nhập, tạo thêm công ăn việc làm cho cư dân nơi có tổ chức các loại hình hay chương trình du lịch sinh thái.

Nếu như các loại hình du lịch dựa vào tự nhiên khác ít quan tâm đến vấn đề này và phần lớn lợi nhuận từ các hoạt động du lịch đều thuộc về các doanh nghiệp du lịch thì ngược lại, lợi nhuận từ Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng sẽ dành một phần đáng kể để đóng góp cải thiện môi trường, nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương.

Bên cạnh đó Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng sẽ luôn hướng tới việc huy động tối đa sự tham gia của cộng đồng địa phương dưới nhiều hình thức dịch vụ: hướng dẫn viên (guider), lưu trú tại nhà dân (homestay), cung ứng các nhu cầu về thực phẩm (food supply), về hàng lưu niệm cho khách (souvenir supply), v.v. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với việc giảm sức ép của cộng động sống trong vùng đệm các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên lên môi trường và đa dạng sinh học.

Việc phát triển Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng tạo điều kiện giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động, đặc biệt là cộng đồng địa phương. Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng phát triển làm thay đổi cách sử dụng tài nguyên truyền thống, thay đổi cơ cấu sản xuất, thúc đẩy phát triển nền kinh tế quốc dân dựa trên cơ sở tài nguyên và nội lực của mình. Phát triển Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng góp phần cải thiện đáng kể đời sống văn hóa xã hội của nhân dân. Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng tạo điều kiện đẩy mạnh sự giao lưu văn hóa giữa du khách và người địa phương, góp phần làm cho đời sống văn hóa - xã hội những vùng này càng trở lên sôi động hơn, văn minh hơn.

Với hệ số sử dụng lao động cao, Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng đã trở thành một giải pháp giải quyết lao động, biện pháp hữu hiệu nhằm tạo công ăn việc làm, đặc biệt là đối với các vùng nông thôn vùng sâu, vùng xa.  

Ngoài ra, Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng phát triển tốt, nhiều dịch vụ du lịch chất lượng cao được tăng cường, điều đó tạo điều kiện giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên về mặt người dân bản địa dù dưới hình thức nào khi đã thương mại hóa thì văn hóa của họ cũng bị ảnh hưởng, du lịch luôn du nhập những thói quen có thể tích cực, có thể tiêu cực. Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng sẽ góp phần hạn chế tối thiểu mặt tiêu cực thông qua giáo dục có mục đích cho du khách, cộng đồng địa phương khi tham gia vào hành trình Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng.

- Thúc đẩy việc hiện đại hóa cơ sở hạ tầng đến các điểm tài nguyên thiên nhiên (TNTN). Đóng góp vào sự tiến bộ chăm sóc sức khỏe, phúc lợi đối với cư dân địa phương.

Để phát triển hoạt động Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng không chỉ đơn thuần dựa vào nguồn TNTN mà cần phải có sự đầu tư về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất của ngành du lịch. Hoạt động Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng càng phát triển thì yêu cầu hiện đại hóa các cơ sở hạ tầng như: đường xá, hệ thống điện, thông tin liên lạc, bệnh viện, trường học...tại các điểm tài nguyên thiên nhiên càng cao. Những công trình trên không những chỉ phục vụ khách du lịch mà còn đóng góp vào sự tiến bộ chăm sóc sức khỏe và phúc lợi cho công đồng địa phương.

- Duy trì các giá trị văn hóa bản địa và nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng

Các giá trị về văn hóa bản địa là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời các giá trị môi trường tự nhiên đối với một hệ sinh thái cụ thể, do đó đây là một trong những vai trò quan trọng của hoạt động Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng. Sự xuống cấp hoặc thay đổi tập tục, sinh hoạt văn hóa truyền thống của cộng đồng địa phương dưới tác động nào đó sẽ làm mất đi sự cân bằng sinh thái tự nhiên vốn có của khu vực và vì vậy sẽ làm thay đổi hệ sinh thái đó. Hậu quả của quá trình này sẽ tác động trực tiếp đến Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng. Chính vì vậy, việc bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng địa phương có ý nghĩa quan trọng và là nguyên tắc hoạt động của Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng.

Sự phát triển hoạt động Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng đã góp phần khôi phục, phát triển nghề thủ công truyền thống, bảo tồn sinh hoạt văn hóa cộng đồng v.v... thông qua nguồn thu từ Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng. Đồng thời, qua việc bảo tồn, phát triển và giao lưu văn hóa giữa cộng đồng và du khách cũng giúp nâng cao đời sống tinh thần của cộng đồng. Tại khu du lịch sinh thái Sua Bali (Gianyar, Bali), ngoài việc thư giãn, du khách còn có thể học tiếng Indo, thưởng thức nghệ thuật truyền thống của Bali như nghề thủ công, khắc gỗ, nấu ăn v.v. Họ được coi là một phần của cộng đồng và đổi lại du khách sẽ tặng 1 USD để bảo tồn khi đến làng. Điều này đã giúp duy trì và phát triển các giá trị văn hóa của cộng đồng (Anak Agung Gde Raka Dalem, 2002).

c. Vai trò về môi trường

- Góp phần bảo vệ môi trường, bảo tồn và tăng giá trị của các tài nguyên thiên nhiên, các khu bảo tồn, vườn quốc gia. Đồng thời giáo dục, nâng cao nhận thức cho du khách và nhân dân địa phương trong việc bảo tồn môi trường, thiên nhiên.

Môi trường và du lịch có mối quan hệ biện chứng với nhau. Môi trường là các thông số đầu vào, tiền đề để phát triển mạnh du lịch, ngược lại thông qua phát triển Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng sẽ giúp môi trường được bảo vệ và nâng cao chất lượng.

Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng được xem là công cụ tốt nhất để bảo tồn thiên nhiên, nâng cao chất lượng môi trường, đề cao các giá trị cảnh quan và nhận thức của toàn dân về sự cần thiết phải bảo vệ hệ sinh thái (HST) dễ bị tổn thương, khống chế sự thay đổi của môi trường sinh thái, khắc phục những tài nguyên đang bị hủy hoại.

Phát triển Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng đồng nghĩa với bảo vệ môi trường vì Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng tồn tại gắn với bảo vệ môi trường tự nhiên và các hệ sinh thái điển hình. Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng được xem là công cụ bảo tồn đa dạng sinh học, nếu các hoạt động Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng được thực hiện một cách đúng nghĩa thì sẽ giảm thiểu được các tác động tiêu cực đến đa dạng sinh học. Sở dĩ như vậy là vì bản chất của Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng là loại hình du lịch dựa trên cơ sở các khu vực có tính hấp dẫn cao về tự nhiên và có hỗ trợ cho bảo tồn tự nhiên.

Bên cạnh đó, việc phát triển Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng còn đặt ra yêu cầu đồng thời khuyến khích và tạo điều kiện về kinh phí để nâng cấp cơ sở hạ tầng, duy trì và bảo tồn các thắng cảnh, tuyên truyền, vận động người dân địa phương thông qua các dự án bảo vệ môi trường, ngoài ra, Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng còn tạo cơ hội để du khách ủng hộ tích cực trong việc bảo tồn tài nguyên môi trường.

Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng còn tạo động lực quan trọng, khơi dậy ý thức bảo vệ môi trường và duy trì HST. Người dân khi nhận được lợi ích từ hoạt động Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng, họ có thể hỗ trợ ngành du lịch và công tác bảo tồn tốt hơn, bảo vệ các điểm tham quan.

Xu hướng phổ biến ngày nay đều cho rằng không thể phát triển kinh tế mà không quan tâm đến việc bảo vệ môi trường sinh thái. Vì vậy, việc phát triển Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng theo đúng hướng sẽ tạo ra sự quản lý và sử dụng chặt chẽ, không để xảy ra tình trạng tàn phá bừa bãi nguồn tài nguyên vì mục đích kinh tế của người dân.

d. Vai trò khác

Ngoài ra theo thống kê của Hiệp hội Sinh thái Thế giới thì Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng còn nhiều vai trò và tác dụng khác như góp phần hướng thiện con người, nâng cao tình thần hiểu biết giữa các dân tộc... Trong phạm vi đề tài này, tác giả chỉ nêu ra một vài vai trò quan trọng, có thể dễ dàng nhận thấy trong việc phát triển Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng.

Như vậy có thể thấy phát triển Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng sẽ là cách tiếp cận quan trọng của phát triển bền vững, đảm bảo được sự cân bằng giữa các mục tiêu kinh tế, văn hóa – xã hội và môi trường cho một lãnh thổ ở những quy mô khác nhau từ địa phương đến vùng, quốc gia, khu vực và toàn cầu.

1.1.3 Những vấn đề liên quan đến phát triển du lịch sinh thái theo hướng bền vững

Du lịch ngày nay đã trở thành một trong những ngành kinh tế phát triển nhanh, là ngành chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế của nhiều nước, ảnh hưởng đến đời sống xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân địa phương ở nhiều vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, cần phải nhận thức được rằng nếu phát triển không có kế hoạch và thiếu sự quản lý chặt chẽ có thể làm trầm trọng hơn các tác động tiêu cực. Khi đó xét trên toàn xã hội, cái lợi thu được không đủ bù đắp chi phí để khắc phục hậu quả của nó. Từ thực tế đó, người ta đã tiếp cận đến một quan điểm mới là ''phát triển bền vững".

Theo Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) thì:"Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu của xã hội hiện tại mà không làm tổn hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ trong tương lai" (Nguyễn Văn Hóa, 2008b).

Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng là một trong những loại hình du lịch được xem là bền vững và có xu hướng phát triển nhanh hơn so với các loại hình du lịch truyền thống. 

Phát triển bền vững luôn luôn bao gồm 5 yếu tố có mối quan hệ tương tác lẫn nhau:

- Yếu tố kinh tế: Sự sáng tạo ra của cải vật chất phải đi đôi với việc cải thiện điều kiện sống.

- Yếu tố xã hội: Đảm bảo sự hoàn thiện về giáo dục, y tế, dinh dưỡng, nhà cửa..

- Yếu tố an ninh an toàn: Đảm bảo các quyền con người; an ninh, an toàn.

- Yếu tố văn hoá: Giới thiệu được bản sắc và giá trị độc đáo riêng đến nhiều người và giữ gìn được bản sắc đó.

- Yếu tố sinh thái: Ưu tiên cho việc giữ gìn và bảo toàn các tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho cuộc sống con người.

Tính bền vững của du lịch được xác định là khả năng sử dụng các nguồn tài nguyên du lịch vẫn đảm bảo khả năng phục hồi và tái tạo chính các nguồn tài nguyên này nhằm đáp ứng mục đích sử dụng lâu dài. Phát triển du lịch bền vững là mục tiêu lâu dài của ngành du lịch. Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) năm 1999 đã đưa ra định nghĩa về du lịch bền vững: “Là loại hình du lịch đáp ứng được nhu cầu hiện tại của du khách và của những vùng đón tiếp mà vẫn bảo đảm và cải thiện nguồn lực cho tương lai. Du lịch bền vững dẫn tới một phương thức quản lý tất cả các nguồn lực sao cho thỏa mãn nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ mà vẫn giữ gìn được sự trọn vẹn của văn hóa và môi trường sống.” (UNWTO, 2001).

Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng như trên đã trình bày, nếu diễn ra theo đúng những nguyên tắc cơ bản của nó sẽ đóng góp rất lớn cho phát triển du lịch bền vững vì nó đảm bảo sự kết hợp hài hoà giữa các mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường, giữa bảo tồn và phát triển lâu dài. Đây là một khái niệm tương đối mới mẻ và nhiều người cho rằng đã nói đến Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng đương nhiên là nói đến du lịch bền vững. Tuy nhiên, Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng có khả năng nhưng không tất yếu là một hình thức của du lịch bền vững (Wight R., 1993). Theo Koeman (1997),  "Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng có thể, nhưng không tự nhiên là một hình thức của du lịch bền vững. Để đạt được một nền Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng bền vững thì cần phải có các mục tiêu cân bằng về kinh tế, môi trường và xã hội trong khuôn khổ đạo lý của các giá trị và nguyên tắc".

Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng phát triển bền vững phải dựa trên các nguyên tắc cơ bản của nó. Trong bài viết: "Du lịch sinh thái - cân bằng các mục tiêu kinh tế, môi trường và xã hội trong khuôn khổ đạo đức" Pamela A. Wight (1997) đã đưa ra những nguyên tắc cơ bản làm nền tảng phát triển Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng bền vững, đó là:

1. Không làm suy giảm các nguồn lực và phải được phát triển theo cách có lợi cho môi trường.

2. Đưa ra được những kinh nghiệm mới cho du khách .

3. Mang tính giáo dục đối với tất cả các thành phần tham gia như: các cộng đồng địa phương, chính quyền, các tổ chức phi chính phủ, ngành du lịch và khách du lịch trong các giai đoạn trước, trong và sau chuyến du lịch.

4. Nâng cao nhận thức của các đối tượng về giá trị thực của nguồn lực.

5. Làm cho mỗi người nhận thức được khả năng giới hạn của nguồn lực về mặt lâu dài.

6. Nâng cao hiểu biết và phối hợp giữa các thành phần tham gia như chính quyền, tổ chức phi chính phủ, ngành du lịch, các nhà khoa học và người dân bản địa trước và trong quá trình hoạt động.

7. Nâng cao trách nhiệm và hành vi đạo đức đối với môi truờng tự nhiên và văn hoá của tất cả những người tham gia.

8. Mang lại lợi ích cho nguồn lực, cộng đồng địa phương và cả ngành du lịch

9. Những hoạt động sinh thái phải bảo đảm rằng những nguyên tắc đạo đức cơ bản đối với môi trường phải được áp dụng không những cho nguồn lực bên ngoài là yếu tố hấp dẫn khách du lịch chẳng hạn nguồn lực tự nhiên và văn hoá mà còn được áp dụng cho cả hoạt động nội tại của chúng nữa.

Sơ đồ 1.2: Mô hình của Pamela A. Wight về các nguyên tắc và giá trị du lịch sinh thái bền vững

Mô hình các nguyên tắc và giá trị Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng bền vững đã được Pamela A.Wight xây dựng, trong đó 3 nhóm mục tiêu về kinh tế, xã hội, môi trường được coi là có tầm quan trọng như nhau, phải được giải quyết một cách cân đối để đạt được sự phát triển bền vững. Những mục tiêu này có thể được tóm tắt như sau :

Theo Lê Văn Lanh (2000) thì các điều kiện tiên quyết cho hệ thống Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng bền vững bao gồm các điều kiện sau: (1). Điểm tới thăm có thực hiện việc bảo tồn thiên nhiên; (2). Thông tin từ nghiên cứu và quan sát; (3). Các hướng dẫn viên am hiểu địa phương; (4). Các giới hạn về sử dụng đất đai; (5). Các chương trình được thiết lập dựa trên tài nguyên thiên nhiên và văn hoá của khu vực; (6). Các phương tiện và việc sắp xếp để hỗ trợ các chương trình hoạt động Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng. Đây cũng là những điều kiện mà chúng ta có thể xem xét đối với việc tổ chức các hoạt động Dự án khu du lịch sinh thái và thuê môi trường rừng trong điều kiện thực tế tại nước ta.

 

Liên hệ tư vấn:

CÔNG TY CP TV ĐẦU TƯ VÀ THIẾT KẾ XÂY DỰNG MINH PHƯƠNG

Địa chỉ: Số 28 B Mai Thị Lựu, Phường Đa Kao, Q 1, TPHCM

Chi nhánh: 2.14 Chung cư B1,số 2 Trường Sa, P 17, Q Bình Thạnh, TPHCM

ĐT: (028) 35146426 - (028) 22142126  – Fax: (028) 39118579 - Hotline 090 3649782

Website: www.khoanngam.com;  www.lapduan.info;

Email: nguyenthanhmp156@gmail.comthanhnv93@yahoo.com.vn

minhphuong corp

 

Bình luận (0)

Gửi bình luận của bạn

Captcha